Quạt trần công nghiệp FANARO HVLS: chọn model 3,7–7,3 m cho nhà xưởng

Quạt trần công nghiệp FANARO là dòng quạt HVLS (High Volume Low Speed, lưu lượng lớn tốc độ thấp) Standard Series gồm 7 model, đường kính từ 3,7 m đến 7,3 m, dùng motor PMSM nam châm vĩnh cửu rotor ngoài truyền động trực tiếp, công suất 0,3–1,5 kW, chuẩn chống nước bụi IP65. Mỗi quạt phủ khoảng 400–1.000 m² tuỳ model, hợp với nhà xưởng, kho, trang trại, sân thể thao trong nhà và nhà hàng lớn có trần từ 4 m trở lên.

Trang này vốn chuyên về in 3D, quét 3D, tức là loay hoay với máy móc và nhà xưởng nhiều. Mà đã vào xưởng mùa nắng thì ai cũng biết cái nóng nó ảnh hưởng tới người, tới máy, tới cả vật liệu như thế nào. Nên bài này tôi viết theo kiểu người làm kỹ thuật nói chuyện với nhau: quạt trần công nghiệp HVLS chạy theo nguyên lý gì, FANARO có những model nào, chọn sao cho đúng chiều cao trần, tính số quạt ra sao, và mấy cái sai mà anh em lắp đặt hay mắc. Không có giá ở đây, vì giá phụ thuộc cấu hình và điều kiện lắp, cái đó phải khảo sát.

Nếu bạn chưa biết FANARO là ai thì có thể đọc trước bài giới thiệu thương hiệu FANARO. Nói ngắn gọn: FANARO (mã sản phẩm FNR) là thương hiệu quạt HVLS Việt Nam thuộc FADO Group, động cơ do đối tác OEM nước ngoài sản xuất, còn phần điều khiển (app FA-SOFT, tủ điều khiển trung tâm, điều khiển Bluetooth tập trung) do đội R&D trong nước phát triển.

Quạt HVLS là gì, khác gì cái quạt công nghiệp treo tường?

Quạt HVLS là loại quạt trần đường kính rất lớn, thường từ khoảng 3 m trở lên, quay chậm (với FANARO là 55–100 vòng/phút) nhưng đẩy được khối không khí cực lớn mỗi phút. Ngược lại, quạt công nghiệp treo tường hay quạt hút cỡ nhỏ thì quay nhanh, gió mạnh, nhưng tầm thổi ngắn và chỉ phủ một góc.

Cái này nhiều người hỏi: quay chậm vậy thì mát kiểu gì? Thật ra cái quyết định không phải tốc độ cánh, mà là lượng không khí di chuyển và cách nó di chuyển. Cánh quạt FANARO dài 1,7–3,4 m, mỗi vòng quay nó “ôm” một cột khí to đùng rồi ép xuống sàn. Model 7,3 m đẩy khoảng 14.900 m³ không khí mỗi phút. Tính nhanh thì một xưởng 1.000 m², trần 8 m, thể tích cỡ 8.000 m³, vậy là chưa tới một phút quạt đã khuấy hết một lượt không khí trong đó. Quạt treo tường mấy trăm watt thì làm không nổi chuyện này, dù gắn cả chục cái.

Thêm một điểm ít ai để ý: gió từ quạt tốc độ cao là gió giật, thổi thẳng vào mặt lâu thì khó chịu, giấy tờ bay, bụi bay. Gió HVLS thì dày và êm, giống gió tự nhiên ngoài đồng hơn. Người làm việc tám tiếng dưới nó không bị khô mắt, nhức đầu như đứng trước quạt công nghiệp. Độ ồn của dòng Standard Series cũng chỉ ≤35–40 dB, tức là đứng dưới quạt vẫn nói chuyện bình thường được.

Vì sao một cái quạt lại làm mát được cả nhà xưởng vài trăm, cả nghìn mét vuông?

Có ba cơ chế chồng lên nhau, tôi tách ra cho dễ hình dung.

1. Cột khí và lớp gió sát sàn

Cánh quạt đẩy một cột khí lớn thẳng xuống. Cột khí này chạm sàn thì không biến mất mà bẻ ngang, loang ra mọi hướng thành một lớp gió dày khoảng 1–3 m sát mặt sàn, chính là vùng người đứng, ngồi làm việc. Lớp gió này đi xa dần ra phía tường, gặp tường thì đi lên rồi quay lại tâm quạt. Thành ra quạt tạo một vòng tuần hoàn khép kín trong cả không gian, chứ không chỉ thổi một chỗ. Đó là lý do một quạt 7,3 m có thể phủ khoảng 1.000 m².

2. Phá phân tầng nhiệt

Nhà xưởng mái tôn có một hiện tượng anh em kỹ thuật gọi là phân tầng nhiệt: khí nóng nhẹ nên dồn lên sát mái, khí mát hơn nằm dưới. Buổi trưa, sát mái có thể nóng hơn sàn cả chục độ. Nghe thì tưởng tốt cho người ở dưới, nhưng thực tế lớp nóng trên mái cứ dày dần, bức xạ ngược xuống, và khi nó dày tới vùng làm việc thì cả xưởng như cái lò. Quạt HVLS liên tục trộn hai lớp này, nhiệt độ từ sàn tới mái đều hơn, nhiệt tích trên mái được đẩy ra cửa, cửa thông gió hoặc quạt hút mái dễ hơn. Mùa lạnh ở miền Bắc thì ngược lại, chạy quạt chậm để kéo khí ấm từ trên xuống, nhưng ở Việt Nam đa số khách dùng cho mùa nóng.

3. Bay hơi mồ hôi, cái làm người ta thấy mát thật

Quạt không làm giảm nhiệt độ không khí như máy lạnh. Nói cho đúng thì nó làm giảm nhiệt độ cảm nhận. Gió lướt qua da làm mồ hôi bay hơi nhanh hơn, mà bay hơi thì lấy nhiệt từ cơ thể. Thêm nữa, lớp không khí nóng ẩm bám quanh người bị gió cuốn đi liên tục. Theo số liệu tham khảo thường dùng cho quạt HVLS, nhiệt độ cảm nhận có thể giảm khoảng 3–8 °C tuỳ tốc độ gió, độ ẩm và mức độ hoạt động của người. Ở xưởng độ ẩm cao như miền Nam mùa mưa thì hiệu quả thường thấp hơn đầu dải một chút, cái này nói trước để khỏi kỳ vọng sai.

Ghép ba cái lại thì bạn hiểu vì sao quạt trần công nghiệp HVLS hợp với không gian lớn, thoáng, nơi lắp máy lạnh thì không kham nổi tiền điện, còn quạt nhỏ thì không đủ sức.

FANARO Standard Series có những model nào?

Dòng quạt HVLS FANARO Standard Series hiện có đúng 7 model, mã từ FNR-C37V6 đến FNR-C73V6. Hai số ở giữa mã là đường kính (37 là 3,7 m, 73 là 7,3 m), “V6” là bản 6 cánh. Không có model 3,1 m, 3,6 m, 5,2 m hay 8 m trong dòng này, nếu đâu đó báo cho bạn những cỡ đó dưới tên FANARO thì nên hỏi lại cho chắc.

ModelĐường kínhCông suấtTốc độ (vòng/phút)Lưu lượng (m³/phút)Diện tích phủ (m²)Chiều cao lắp (m)Độ ồnChiều dài cánh
FNR-C37V63,7 m0,3 kW1005.5004005–8≤35 dB1,7 m
FNR-C42V64,2 m0,5 kW1008.2005004–6≤35 dB1,9 m
FNR-C49V64,9 m0,9 kW7511.5006005–8≤36 dB2,25 m
FNR-C55V65,5 m0,9 kW6512.5007005–8≤36 dB2,5 m
FNR-C61V66,1 m1,2 kW55–6014.2008006–9≤37 dB2,8 m
FNR-C65V66,5 m1,5 kW55–6014.5009006–10≤40 dB3,0 m
FNR-C73V67,3 m1,5 kW55–6014.9001.0006–12≤40 dB3,4 m

Nhìn bảng sẽ thấy vài điều thú vị. Thứ nhất, công suất tăng chậm hơn nhiều so với lưu lượng. Model 3,7 m ăn 0,3 kW cho 5.500 m³/phút, model 7,3 m ăn 1,5 kW cho 14.900 m³/phút. Thứ hai, cỡ càng lớn thì quay càng chậm, đây là đặc trưng của quạt HVLS: cánh dài thì đầu cánh đã đi rất nhanh dù trục quay chậm, nên không cần quay nhanh. Thứ ba, hai model 6,5 m và 7,3 m cùng 1,5 kW, lưu lượng chênh không nhiều, nhưng 7,3 m phủ rộng hơn và lắp được cao hơn (tới 12 m), nên với xưởng trần cao thì anh em thường nghiêng về 7,3 m.

Còn 4,2 m có dải lắp 4–6 m, thấp hơn các model khác, nên nó hay được chọn cho chỗ trần không cao lắm như sân pickleball, nhà hàng, showroom. Còn nếu không gian nhỏ hơn nữa, trần chỉ 4–5 m, diện tích vài trăm mét vuông, thì nên xem dòng quạt trần thương mại FANARO 2,1–3,7 m thay vì cố nhét quạt công nghiệp vào.

Khối lượng trọn bộ để tính kết cấu

Đây là bảng mà người làm kết cấu cần, vì phải biết dầm chịu bao nhiêu. Khối lượng dưới đây là trọn bộ motor, cánh và ty treo, dao động theo vật liệu cánh và chiều dài ty.

Đường kínhKhối lượng trọn bộ (tham khảo)Ghi chú khi treo
3,7 mkhoảng 45–53 kgTreo được trên hầu hết dầm thép, xà gồ lớn cần kiểm tra
4,2 mkhoảng 50–58 kgHay dùng nơi trần thấp, chú ý khoảng hở tới đèn, ống gió
4,9 mkhoảng 70–91 kgCần xác nhận dầm chính
5,5 mkhoảng 75–97 kgModel hay dùng cho nhà hàng, quán bia, lò gạch
6,1 mkhoảng 98–119 kgNên có bản vẽ kết cấu hoặc khảo sát
6,5 mkhoảng 103–127 kgNên có bản vẽ kết cấu hoặc khảo sát
7,3 mkhoảng 107–133 kgCó thể phải bổ sung dầm phụ nếu bước dầm không khớp vị trí

Lưu ý là ngoài khối lượng tĩnh, quạt quay còn tạo lực động và mô-men xoắn lúc khởi động, hãm. Nên đừng bao giờ tính kiểu “dầm này treo được 200 kg hàng thì treo quạt 130 kg là dư”. Phải có hệ số an toàn, và phải có dây cáp an toàn độc lập, phần dưới tôi nói kỹ.

Motor PMSM rotor ngoài, truyền động trực tiếp thì hơn gì motor hộp số?

Motor của quạt trần công nghiệp FANARO là loại PMSM (động cơ đồng bộ nam châm vĩnh cửu), thiết kế rotor ngoài, gắn cánh trực tiếp vào vỏ rotor, không qua hộp số. Nam châm cấp 42H chịu được 120 °C, nắp motor bằng nhôm 6061, hiệu suất năng lượng cấp 1. Motor chạy với biến tần chuyên dụng, có bản điện 220V một pha và 380V ba pha.

Ai từng bảo trì quạt HVLS đời cũ dùng motor không đồng bộ cộng hộp giảm tốc sẽ hiểu cái lợi ngay. Hộp số là chỗ hay sinh chuyện nhất: phải thay dầu, bánh răng mòn thì kêu, rò dầu thì nhỏ giọt xuống sàn, xuống hàng. Treo ở độ cao 8–10 m mà mỗi lần bảo dưỡng phải dựng xe nâng người thì tốn kém lắm. Bỏ hộp số đi thì bớt hẳn một cụm cơ khí, ít điểm hỏng, gần như không có tiếng rít bánh răng, và không có dầu.

Rotor ngoài thì sao? Với kiểu này, phần quay nằm bên ngoài, đường kính lớn, nên cùng một lực từ nó cho mô-men xoắn lớn ở tốc độ thấp, đúng cái quạt HVLS cần. Motor không phải quay nhanh rồi giảm tốc, mà quay thẳng ở 55–100 vòng/phút. Thường thì kiểu motor này chạy mát hơn, êm hơn, và nhờ biến tần nên chỉnh tốc độ mịn, khởi động mềm, không giật cánh.

Còn chuyện tiết kiệm điện, con số tham khảo hay được nhắc là quạt HVLS có thể tiết kiệm khoảng 40–50% điện so với việc dùng nhiều quạt công nghiệp tốc độ cao hoặc điều hoà cục bộ cho cùng diện tích. Tôi nhấn mạnh chữ “có thể”, vì nó phụ thuộc bạn đang so với cái gì. So với máy lạnh thì chênh lệch còn lớn hơn nhiều, nhưng so như vậy không công bằng vì máy lạnh hạ được nhiệt độ thật còn quạt thì không.

Cánh nhôm 6063-T5 hay cánh thép, chọn loại nào?

Quạt FANARO Standard Series có 6 cánh (có bản 5 cánh), vật liệu là nhôm 6063-T5 cấp hàng không với độ bền kéo khoảng 160–190 MPa, hoặc thép SECC-P mạ kẽm phốt phát. Đầu cánh có cánh gió đuôi (winglet) để giảm xoáy đầu cánh và gom luồng gió xuống.

Cánh nhôm nhẹ hơn, nên tải lên motor và kết cấu nhẹ hơn, đó là lý do khối lượng trọn bộ có dải dao động khá rộng. Nhôm 6063-T5 là hợp kim định hình bằng đùn ép, nên có thể làm biên dạng cánh khí động học chính xác, bề mặt không gỉ, hợp với môi trường ẩm. Cánh thép thì cứng, chịu va đập tốt hơn, bề mặt đã mạ kẽm phốt phát nên chịu được môi trường bình thường, giá thành cũng thường dễ chịu hơn.

Ý kiến cá nhân tôi: xưởng có hơi ẩm, hoá chất nhẹ, gần biển, hoặc trần cao mà muốn giảm tải kết cấu thì chọn nhôm. Nhà hàng, quán bia, nơi cần cánh sơn màu đen cho hợp nội thất thì nhiều chủ đầu tư thích cánh đen, mấy dự án quán bia mà FANARO làm hầu như đều chọn cánh đen. Cái này hỏi bên tư vấn để biết màu, vật liệu nào có sẵn cho model mình chọn.

IP65 nghĩa là gì, có cần thiết không?

IP65 là cấp bảo vệ theo tiêu chuẩn IEC 60529: số 6 nghĩa là kín bụi hoàn toàn, số 5 nghĩa là chịu được tia nước phun từ mọi hướng. Motor quạt HVLS FANARO đạt IP65, FANARO công bố dải IP65–IP68 tuỳ cấu hình.

Có cần không? Với nhà xưởng thì có. Xưởng gỗ, xưởng dệt, xưởng bao bì bụi bay suốt ngày; trang trại chăn nuôi thì ẩm, có khí amoniac, phải xịt rửa; lò gạch thì bụi đất; quán bia nửa ngoài trời thì mưa tạt. Motor treo tít trên cao, nếu bụi hay nước lọt vào thì hỏng ổ bi, chập cuộn dây, sửa rất vất vả. Một motor kín bụi, chịu tia nước giúp bạn ngủ ngon hơn. Tuy nhiên IP65 không có nghĩa là xịt vòi áp lực cao thẳng vào motor thoải mái nhé, vệ sinh vẫn nên theo hướng dẫn.

Treo một cục hơn trăm ký trên đầu công nhân, an toàn tới đâu?

Câu này chủ xưởng nào cũng hỏi, và hỏi vậy là đúng. Một quạt 7,3 m nặng khoảng 107–133 kg, treo ở 8–10 m, cánh dài 3,4 m quay liên tục. Nên hệ an toàn quan trọng ngang với motor. Đây là những gì FANARO dùng trên dòng Standard Series:

  • Thanh gá cánh, vòng an toàn và thanh liên kết cánh làm bằng thép Q355B theo tiêu chuẩn GB/T 1591-2018, cắt laser. Q355B là thép kết cấu cường độ cao, giới hạn chảy danh nghĩa 355 MPa, cao hơn hẳn loại thép thường.
  • Cáp thép an toàn bọc nhựa chống rung M6, chịu tải 500 kg, gấp vài lần khối lượng quạt.
  • Ty treo ống vuông mạ kẽm 50×50 mm, dày 3 mm, cắt dài theo yêu cầu từng công trình.
  • Cáp điện đồng ZC-RVV dài 25 m (loại chống cháy chậm).

Vòng an toàn và thanh liên kết cánh có tác dụng nối các cánh với nhau và với moay-ơ, để nếu lỡ một bulông có vấn đề thì cánh vẫn bị giữ lại chứ không văng. Cáp thép 500 kg thì là lớp bảo hiểm cuối: nó được neo độc lập vào kết cấu, phòng trường hợp ty treo hay mối nối phía trên có sự cố thì quạt vẫn treo trên cáp. Anh em lắp ẩu hay bỏ qua cáp an toàn vì “ty chắc rồi”, cái này tuyệt đối không được.

Bốn kiểu treo

Mỗi công trình một kiểu mái, nên FANARO có 4 kiểu gá treo: treo dầm chữ I (dầm thép hình phổ biến ở nhà tiền chế), treo ống vuông, treo ống tròn (hay gặp ở mái không gian, kết cấu ống), và treo bên tường bê tông. Kiểu cuối dành cho chỗ không có dầm phía trên ngay vị trí cần lắp, phải đi khung từ tường hoặc cột bê tông ra.

Thực tế nhiều khi vị trí đẹp nhất để treo quạt lại không trùng với dầm có sẵn. Khi đó phải làm dầm phụ. Ví dụ ở dự án KangNamBiz số 55 Ung Văn Khiêm, khách lắp 2 quạt HVLS 7,3 m cánh đen, và phải bổ sung một dầm ngang dài 15 m để treo một trong hai quạt. Ở sân pickleball Quận 2, quạt 4,2 m cũng đi kèm một dầm phụ dài 11 m. Đây là chuyện bình thường, quan trọng là tính toán và thi công dầm phụ cho đúng, đừng tiếc vài cây thép.

Điều khiển quạt bằng gì, có điều khiển cả dãy quạt một lúc được không?

Được. Phần điều khiển là chỗ FANARO tự phát triển trong nước và tôi thấy đây là điểm đáng chú ý của hãng. Có ba lớp:

Lớp thứ nhất là biến tần chuyên dụng đi theo từng quạt, lo việc khởi động mềm, chỉnh tốc độ vô cấp, bảo vệ quá dòng, quá áp. Lớp thứ hai là app điện thoại FA-SOFT: bật tắt, chỉnh tốc độ từ điện thoại, khỏi phải đi ra tủ. Lớp thứ ba là tủ điều khiển trung tâm và điều khiển tập trung không dây Bluetooth, cho phép quản lý tới 80 quạt trong phạm vi 100 m.

80 quạt nghe có vẻ nhiều, nhưng với kho logistics hay khu công nghiệp có vài nhà xưởng liền kề, con số vài chục quạt là có thật. Không có điều khiển tập trung thì mỗi sáng phải có người đi bật từng cái, chiều đi tắt từng cái, quên một cái là chạy suốt đêm. Với tủ trung tâm, quản lý ca có thể bật cả khu, giảm tốc khu ít người, tắt khi tan ca. Ở quán bia hơi TP. Vinh, 2 quạt 5,5 m cánh đen được nối về 1 tủ điều khiển trung tâm, chủ quán bật tắt chỉnh gió chỗ quầy cho cả hai.

Muốn xem chi tiết hơn về cấu hình điều khiển của từng model thì có thể tham khảo trang thông tin dòng Standard Series bên SmartQuat, đó là kênh phân phối và tư vấn của FANARO.

Trần nhà tôi cao bao nhiêu thì chọn model nào?

Quy tắc đầu tiên: chiều cao lắp đặt phải nằm trong dải mà model đó cho phép, sau đó mới tới chuyện diện tích. Chiều cao lắp ở đây là khoảng cách từ sàn tới cánh quạt, không phải chiều cao đỉnh mái. Nhà tiền chế mái dốc thì đỉnh mái có thể 10 m nhưng chỗ treo được quạt (dưới xà gồ, tránh đèn, ống gió, cầu trục) có khi chỉ 7–8 m.

Chiều cao lắp quạt (sàn tới cánh)Model thường cân nhắcGhi chú
4–5 mFNR-C42V6 (4,2 m)Model duy nhất trong Standard Series có dải từ 4 m; không gian nhỏ hơn thì xem quạt trần thương mại
5–6 mFNR-C37V6, C42V6, C49V6, C55V6Chọn theo diện tích; nhà hàng, quán bia thường dùng 5,5 m
6–8 mFNR-C49V6, C55V6, C61V6, C65V6, C73V6Dải phổ biến của xưởng tiền chế; xưởng lớn thường lên 6,1–7,3 m
8–10 mFNR-C61V6 (tới 9 m), C65V6, C73V6Trần cao cần quạt lớn để cột khí xuống tới sàn còn đủ mạnh
10–12 mFNR-C73V6Chỉ 7,3 m có dải lắp tới 12 m

Vì sao trần cao lại cần quạt to? Vì cột khí từ cánh xuống tới sàn bị hao dần, càng xa càng yếu. Treo quạt nhỏ quá cao thì gió xuống tới đầu người chỉ còn lờ đờ. Ngược lại, quạt quá to treo quá thấp thì khoảng hở giữa cánh và vật cản phía dưới (xe nâng, kệ hàng, máy) không đủ, vừa nguy hiểm vừa làm luồng gió bị chặn.

Một chuyện nữa là khoảng cách tới mái. Cánh cần một khoảng trống phía trên để hút khí vào. Treo dính sát mái tôn thì quạt “đói gió”, lưu lượng thực tế giảm. Thường thì ty treo được cắt sao cho cánh cách mặt dưới mái một khoảng hợp lý, cái này đội lắp đặt sẽ đo khi khảo sát.

Cách tính số quạt cho nhà xưởng, có ví dụ

Cách tính nhanh nhất là lấy diện tích cần làm mát chia cho diện tích phủ của model, rồi làm tròn lên và điều chỉnh theo mặt bằng. Nhưng xin nói rõ: đây là ước tính sơ bộ để có con số trong đầu. Số quạt chốt cuối cùng phải dựa trên khảo sát thực tế, vì kệ hàng cao, vách ngăn, máy móc toả nhiệt, vị trí cửa đều làm thay đổi kết quả.

Ví dụ 1: xưởng sản xuất mặt bằng thoáng

Giả định: xưởng 60 m × 40 m = 2.400 m², nhà tiền chế, chiều cao lắp quạt khoảng 9 m, mặt bằng tương đối thông thoáng, không có kệ cao chắn gió.

Với chiều cao 9 m, chọn FNR-C73V6 (7,3 m, phủ khoảng 1.000 m²). Số quạt = 2.400 / 1.000 = 2,4, làm tròn thành 3 quạt. Xếp 3 quạt theo chiều dài 60 m, mỗi quạt “phụ trách” một ô khoảng 20 m × 40 m. Nếu đổi sang FNR-C61V6 (phủ 800 m², lắp tới 9 m) thì 2.400 / 800 = 3 quạt, vẫn 3 quạt nhưng mỗi quạt yếu hơn chút và công suất 1,2 kW thay vì 1,5 kW. Hai phương án đều được, chọn cái nào tuỳ ưu tiên gió mạnh hay điện thấp.

Ví dụ 2: kho có kệ cao

Giả định: kho 80 m × 30 m = 2.400 m², chiều cao lắp khoảng 10 m, kệ hàng cao 6 m chạy theo chiều dài, lối đi rộng 3–4 m.

Ở đây, kệ hàng chặn lớp gió sát sàn, nên diện tích phủ thực tế của mỗi quạt giảm đáng kể. Thay vì tính 2.400 / 1.000, anh em thường bố trí quạt dọc theo lối đi chính và khu soạn hàng, nơi có người làm việc, chứ không cố phủ đều cả kho. Kết quả có thể là 3–4 quạt 7,3 m đặt trên các lối đi, tuỳ số lối đi. Đây là chỗ mà tính bằng bảng tính thôi không đủ, phải nhìn bản vẽ mặt bằng.

Ví dụ 3: nhà hàng, quán bia

Giả định: không gian 25 m × 28 m = 700 m², trần khoảng 6 m, khách ngồi rải đều. Chọn FNR-C55V6 (5,5 m, phủ khoảng 700 m²): về lý thuyết 1 quạt là đủ. Nhưng nhà hàng khác xưởng ở chỗ khách ngồi yên, ăn đồ nóng, uống bia, nên cần gió đều hơn ở mọi bàn. Nhiều chủ quán chọn 2 quạt 5,5 m chạy tốc độ vừa phải thay vì 1 quạt chạy max, gió êm hơn và phủ góc tốt hơn. Đây cũng là cấu hình mà Natra Beer Garden ở Tân Phú và nhà hàng tiệc cưới ở Sóc Trăng đã chọn: mỗi nơi 2 quạt 5,5 m.

Mấy giả định trong các ví dụ trên là để minh hoạ cách nghĩ, không phải bản thiết kế. Muốn có phương án cụ thể thì gửi mặt bằng, chiều cao, ảnh hiện trạng để bên FANARO tính.

Quạt trần công nghiệp HVLS hợp với những chỗ nào?

Gói gọn thì: không gian rộng, trần từ 4 m trở lên, có người làm việc hoặc có thứ cần thông gió, và không kinh tế để làm lạnh bằng máy lạnh. Đi vào từng loại cho cụ thể.

Nhà xưởng sản xuất

Xưởng cơ khí, may mặc, bao bì, gỗ, điện tử lắp ráp… là khách hàng chính của quạt HVLS. Nhà tiền chế mái tôn hấp nhiệt rất ghê, buổi chiều công nhân mệt, năng suất tụt, máy cũng nóng. Lắp vài quạt 6,1–7,3 m phá phân tầng nhiệt, gió đều khắp xưởng. Ở xưởng in 3D, nói chuyện nhà mình một chút, nhiệt độ phòng ảnh hưởng tới độ co ngót, cong vênh của chi tiết nhựa, nhưng với máy FDM khung hở thì phải cẩn thận vì gió trực tiếp thổi vào bàn in làm lớp nhựa nguội không đều. Khu máy in nên có vách che hoặc buồng kín, còn khu hậu xử lý, đóng gói thì quạt HVLS rất hợp.

Dự án thực tế: xưởng bao bì ở Lái Thiêu lắp 2 quạt HVLS 7,3 m. KangNamBiz ở 55 Ung Văn Khiêm dùng 2 quạt 7,3 m cánh đen, đã nhắc ở trên vì vụ dầm phụ 15 m.

Kho hàng, trung tâm logistics

Kho có đặc điểm trần rất cao, diện tích lớn, người ít nhưng xe nâng chạy liên tục. Quạt HVLS giữ không khí lưu thông, giảm ẩm đọng trên hàng hoá và vách tôn, công nhân soạn hàng đỡ nóng. Model 7,3 m với dải lắp tới 12 m là lựa chọn thường thấy. Chú ý tính khoảng hở với cột nâng xe nâng khi nâng cao nhất.

Trang trại chăn nuôi

Chuồng trại cần thông gió để giảm nhiệt, giảm ẩm, giảm khí độc. Motor IP65 kín bụi chịu nước là điểm quan trọng ở đây. Tuy nhiên chuồng kín kiểu làm mát bằng tấm làm mát và quạt hút thì có thiết kế riêng, quạt HVLS thường dùng cho chuồng hở hoặc nhà trưng, nhà chờ, khu vắt sữa.

Lò gạch, xưởng hong khô

Ứng dụng này ít người nghĩ tới. Ở lò gạch Bình Phước, chủ lò lắp 6 quạt HVLS 5,5 m để hong khô gạch mộc trước khi đưa vào nung. Gạch mộc phải ráo nước tới một mức nhất định, phơi tự nhiên thì phụ thuộc thời tiết, mùa mưa là nằm chờ. Quạt tạo luồng gió đều qua các dãy gạch, giúp bay hơi nước. Nguyên lý tương tự áp dụng được cho các xưởng cần hong khô như gỗ, nông sản, sơn, tất nhiên mỗi loại cần tính riêng.

Nhà hàng lớn, quán bia, nhà hàng tiệc cưới

Đây là mảng mà quạt 5,5 m cánh đen gần như thành “đồng phục”. Danh sách các công trình FANARO đã làm khá dài: quán bia hơi TP. Vinh 2 quạt 5,5 m cánh đen kèm tủ điều khiển trung tâm; một quán bia ở Hải Phòng 1 quạt 5,5 m cánh đen; Natra Beer Garden Tân Phú 2 quạt 5,5 m cánh đen; nhà hàng tiệc cưới Sóc Trăng 2 quạt 5,5 m; một quán lẩu ở Phú Quốc dùng quạt HVLS 5,5 m. Lý do khá dễ hiểu: không gian bán mở, máy lạnh vô dụng, quạt treo tường thì ồn và thổi bay khăn giấy, còn quạt HVLS vừa mát vừa êm (≤36 dB với 5,5 m), lại thành điểm nhấn kiến trúc.

Sân thể thao trong nhà

Sân pickleball, cầu lông, bóng rổ trong nhà cần gió nhẹ, đều, không được tạo luồng giật làm lệch quỹ đạo bóng hay cầu. Gió HVLS dày và chậm nên hợp hơn quạt tốc độ cao. Ở sân pickleball Quận 2, chủ sân lắp 1 quạt HVLS 4,2 m trên dầm phụ 11 m. Với cầu lông thì nên bàn kỹ vị trí và tốc độ vì quả cầu rất nhạy gió, thường đặt quạt ngoài vùng sân chính hoặc chạy tốc độ thấp.

Ngoài ra, nếu chỗ của bạn không có trần hoặc mái quá thấp, như sân vườn, bãi ngoài trời, mái bạt, thì quạt trần không treo được. Lúc đó xem bài về quạt tháp, quạt trụ HVLS ngoài trời của FANARO. Danh sách công trình đầy đủ thì có ở mục dự án trên SmartQuat.

Chạy quạt HVLS một tháng tốn bao nhiêu tiền điện?

Tiền điện của quạt HVLS thấp hơn nhiều người tưởng. Để có con số cụ thể, tôi dùng mấy giả định sau, xin nhắc lại là giả định để minh hoạ: giá điện 2.500 đ/kWh, hệ số phát thải 0,7 kg CO₂/kWh, quạt chạy ở công suất định mức (thực tế thường chạy dưới mức này nên số thật còn thấp hơn), 26 ngày làm việc mỗi tháng.

Trường hợpCông suấtGiờ chạy/ngàyĐiện/thángTiền điện/tháng (giả định 2.500 đ/kWh)CO₂/tháng (giả định 0,7 kg/kWh)
1 quạt FNR-C37V6 (3,7 m)0,3 kW1078 kWhkhoảng 195.000 đkhoảng 55 kg
1 quạt FNR-C55V6 (5,5 m)0,9 kW10234 kWhkhoảng 585.000 đkhoảng 164 kg
1 quạt FNR-C73V6 (7,3 m)1,5 kW10390 kWhkhoảng 975.000 đkhoảng 273 kg
Xưởng ví dụ 1: 3 quạt 7,3 m4,5 kW101.170 kWhkhoảng 2.925.000 đkhoảng 819 kg
Lò gạch kiểu 6 quạt 5,5 m5,4 kW121.685 kWhkhoảng 4.212.000 đkhoảng 1.180 kg

Tính theo giờ cho dễ nhớ: quạt 7,3 m chạy hết công suất một giờ tốn 1,5 kWh, tức khoảng 3.750 đ với giá giả định. Một quạt phủ khoảng 1.000 m², vậy làm mát mỗi 1.000 m² xưởng tốn chưa tới 4.000 đ/giờ. So với máy lạnh cho 1.000 m² thì khác nhau một trời một vực, tuy như tôi nói, hai thứ làm việc khác nhau.

Dòng lò gạch trong bảng là tôi giả định chạy 12 giờ/ngày để minh hoạ, không phải số liệu đo của lò gạch Bình Phước. Ai đang cân nhắc thì cứ lấy công suất nhân giờ chạy nhân giá điện của mình mà tính, công thức đơn giản thôi.

Biến tần cho phép chạy ở tốc độ thấp, mà công suất quạt giảm nhanh khi giảm tốc (theo quy luật quạt, công suất tỉ lệ khoảng lập phương tốc độ). Nên buổi sáng mát trời chạy 60–70% tốc độ thì điện tiêu thụ chỉ còn một phần nhỏ so với định mức. Đó là lý do con số thực tế thường thấp hơn bảng.

Những sai lầm hay gặp khi lắp quạt trần công nghiệp

Phần này tôi viết từ những gì anh em thi công hay kể lại, có cái nghe buồn cười nhưng hậu quả không buồn cười chút nào.

  1. Chọn quạt theo diện tích mà quên chiều cao. Xưởng 500 m² nhưng trần 10 m mà lắp 4,2 m (dải lắp 4–6 m) thì gió xuống tới sàn gần như không còn gì. Luôn kiểm tra dải chiều cao lắp trước.
  2. Treo dưới đèn hoặc ngay dưới đèn chiếu sáng. Cánh quay dưới đèn tạo hiệu ứng nhấp nháy bóng (stroboscopic), nhìn lâu chóng mặt, khó chịu. Quạt nên đặt ngang hoặc cao hơn đèn, hoặc dời đèn sang chỗ khác.
  3. Quên cáp an toàn hoặc neo cáp vào chính ty treo. Cáp an toàn phải neo độc lập vào kết cấu chính. Neo vào ty thì ty hỏng là cáp cũng vô nghĩa.
  4. Treo sát quá vào cầu trục, ống gió, sprinkler. Phải chừa khoảng hở đủ cho cánh, kể cả khi cánh võng nhẹ lúc quay và khi cầu trục chạy qua. Hệ thống sprinkler chữa cháy cũng cần kiểm tra để quạt không cản tia phun.
  5. Đặt hai quạt quá gần nhau. Luồng gió của hai quạt đụng nhau ở giữa tạo vùng chết, chỗ đó lại không có gió. Quạt nên giãn đều theo lưới, cách tường một khoảng hợp lý, cái này khảo sát sẽ chốt.
  6. Quạt đẩy gió mà xưởng không có đường thoát nhiệt. Quạt HVLS trộn khí, không hút khí nóng ra ngoài. Xưởng kín mít, không cửa thông gió, không quạt hút mái thì quạt chỉ khuấy khí nóng. Nên kết hợp với thông gió tự nhiên hoặc quạt hút.
  7. Đấu điện tạm bợ. Cáp đi kèm là cáp đồng ZC-RVV 25 m, dùng đúng loại, đi trong máng, có aptomat riêng cho từng quạt hoặc từng nhóm. Đừng nối thêm dây bằng băng keo rồi vắt lên xà gồ.
  8. Không làm dầm phụ khi vị trí lệch dầm. Thà mất thêm một ngày làm dầm phụ như ở KangNamBiz hay sân pickleball Quận 2, còn hơn treo lệch tâm lên xà gồ mỏng.
  9. Bỏ qua bảo trì định kỳ. Không có hộp số không có nghĩa là không cần kiểm tra. Bulông, cáp an toàn, cánh, cáp điện nên được kiểm tra theo định kỳ, nhất là sau giai đoạn chạy nhiều.

Từ lúc hỏi tới lúc quạt quay thì đi qua những bước nào?

Quy trình thường thì như sau, mỗi công trình có thể thêm bớt:

  1. Gửi thông tin ban đầu: diện tích, chiều cao tới chỗ treo, kiểu kết cấu mái, ảnh hiện trạng, mục đích (làm mát người, thông gió, hong khô…).
  2. Tư vấn sơ bộ model và số lượng, kiểu như mấy ví dụ tính ở trên.
  3. Khảo sát thực tế: đo vị trí dầm, vật cản, đèn, cầu trục, nguồn điện; quyết định kiểu treo (dầm chữ I, ống vuông, ống tròn hay treo từ tường bê tông) và có cần dầm phụ không.
  4. Chốt phương án, báo giá theo cấu hình: model, vật liệu cánh, màu cánh, điện 220V hay 380V, chiều dài ty, có tủ điều khiển trung tâm hay không.
  5. Thi công: gia công dầm phụ nếu có, lắp ty, motor, cánh, cáp an toàn, đi điện, cài đặt biến tần và app FA-SOFT.
  6. Chạy thử, cân chỉnh, hướng dẫn sử dụng và bàn giao. Bảo hành theo chính sách FANARO tại thời điểm mua.

Ai muốn đọc lý thuyết kỹ hơn trước khi gọi tư vấn thì bài giải thích quạt HVLS là gì bên SmartQuat viết khá đầy đủ, có thể đọc song song với bài này.

Mấy câu hay được hỏi

Quạt trần công nghiệp FANARO có mấy model?

Dòng HVLS Standard Series có 7 model: 3,7 m, 4,2 m, 4,9 m, 5,5 m, 6,1 m, 6,5 m và 7,3 m (mã FNR-C37V6 đến FNR-C73V6), công suất 0,3–1,5 kW, phủ khoảng 400–1.000 m² mỗi quạt. Không có cỡ 3,1 m, 3,6 m, 5,2 m hay 8 m trong dòng này.

Quạt HVLS FANARO có làm giảm nhiệt độ phòng như máy lạnh không?

Không. Quạt không hạ nhiệt độ không khí mà giảm nhiệt độ cảm nhận, thường khoảng 3–8 °C tuỳ tốc độ gió và độ ẩm, nhờ làm mồ hôi bay hơi nhanh và phá lớp khí nóng tích trên mái. Với xưởng có nguồn nhiệt lớn thì nên kết hợp thông gió.

Trần cao 6 m thì dùng quạt mấy mét?

Ở 6 m, hầu hết model đều nằm trong dải lắp: 4,2 m (tới 6 m), 3,7 m, 4,9 m, 5,5 m (5–8 m), và 6,1–7,3 m (từ 6 m). Chọn cụ thể theo diện tích: vài trăm mét vuông thì 4,2–5,5 m, gần nghìn mét vuông thì cân nhắc 6,1–7,3 m nếu khoảng hở cho phép.

Một quạt 7,3 m tốn bao nhiêu điện?

Công suất định mức 1,5 kW, tức tối đa 1,5 kWh mỗi giờ. Với giá điện giả định 2.500 đ/kWh là khoảng 3.750 đ/giờ khi chạy hết công suất; chạy tốc độ thấp hơn thì tốn ít hơn đáng kể.

Quạt có dùng được điện 1 pha không?

Có. Dòng Standard Series có bản 220V một pha và bản 380V ba pha. Chọn bản nào tuỳ nguồn điện sẵn có tại công trình, chốt khi khảo sát.

Quạt treo trên cao có an toàn không, lỡ rơi thì sao?

Hệ treo có thanh gá cánh, vòng an toàn, thanh liên kết cánh bằng thép Q355B cắt laser, ty treo ống vuông mạ kẽm 50×50 dày 3 mm, và cáp thép an toàn M6 chịu 500 kg neo độc lập vào kết cấu. Điều kiện là phải lắp đúng kỹ thuật và kiểm tra định kỳ.

Điều khiển nhiều quạt cùng lúc được không?

Được. Ngoài app điện thoại FA-SOFT và tủ điều khiển trung tâm, FANARO có điều khiển tập trung không dây Bluetooth quản lý tới 80 quạt trong phạm vi 100 m.

Quạt có ồn không, dùng cho nhà hàng được không?

Độ ồn công bố ≤35–40 dB tuỳ model, thấp hơn tiếng nói chuyện bình thường. Nhiều nhà hàng, quán bia đã dùng model 5,5 m (≤36 dB), như ở TP. Vinh, Hải Phòng, Tân Phú, Sóc Trăng, Phú Quốc. Quán lẩu ở Hóc Môn thì dùng 1 quạt 3,7 m kết hợp 1 quạt trần thương mại FNR2500.

Giá quạt trần công nghiệp FANARO bao nhiêu?

Bài này không nêu giá vì giá phụ thuộc model, vật liệu và màu cánh, điện 1 pha hay 3 pha, chiều dài ty, kiểu treo, có làm dầm phụ hay tủ điều khiển trung tâm không. Liên hệ để được báo giá theo đúng công trình.

Liên hệ tư vấn, khảo sát

Nếu đang tính lắp quạt HVLS FANARO cho xưởng, kho, trang trại hay nhà hàng, cách nhanh nhất là gửi ảnh hiện trạng, kích thước và chiều cao qua Zalo để được tính sơ bộ trước. Hotline/Zalo: 0913 101 838 (Mr. Cường – FANARO). Văn phòng: 161/1-3 Cộng Hòa, P. Bảy Hiền, TP.HCM. Xưởng: 305/B Bình Thung 2, P. Bình An. Trung tâm R&D: Số 1 Võ Văn Ngân, P. Thủ Đức. Website chính hãng: fanarosolutions.com; có thể để lại yêu cầu qua trang liên hệ SmartQuat.

Còn nếu bạn chỉ đọc cho biết thì cũng tốt, lần sau đứng giữa một cái xưởng mái tôn nóng hầm hập, bạn sẽ biết là có cách xử lý mà không phải lắp cả chục cục máy lạnh.

Bạn đánh giá bài viết này thế nào?